Trĩ và Suy giãn tĩnh mạch là gì?
Hôm nay chúng ta hãy cùng dược sĩ NT Pharma tìm hiểu về bệnh trĩ là gì? Suy giãn tĩnh mạch là gì? điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống như thế nào? cũng như cách tự điều trị ở nhà để bệnh mau thuyên giảm nhé.
- Bệnh trĩ do các tĩnh mạch trực tràng giãn rộng ra
- Bệnh suy giãn tĩnh mạch xảy ra khi các tĩnh mạch của chân giãn và sưng to.
Suy giãn tĩnh mạch và bệnh trĩ là hai bệnh lý khá phổ biến, có thể xảy ra ở nhiều độ tuổi.
Hai căn bệnh này thường ít nguy hiểm nhưng dễ tiến triển nặng hơn nếu để lâu ngày, gây khó khăn cho điều trị và tốn kém về kinh tế.
Bệnh trĩ và suy giãn tĩnh mạch chi dưới đều xảy ra do nguyên nhân liên quan đến tĩnh mạch. Thông thường, giãn tĩnh mạch hình thành ở chân, nhưng chúng cũng có thể xuất hiện ở các bộ phận khác của cơ thể.
Khi giãn tĩnh mạch hình thành trong trực tràng và gặp các yếu tố nguy cơ sẽ gây ra các triệu chứng như chảy máu, đau, sa trĩ… chúng được gọi là bệnh trĩ.
Bệnh trĩ là gì?
1. Định nghĩa bệnh trĩ
Bệnh trĩ (tên tiếng anh: hemorrhoids) là tình trạng giãn ra của các tĩnh mạch ở hậu môn và trực tràng dưới, tương tự như chứng giãn tĩnh mạch chân.

Bệnh trĩ rất phổ biến tại Việt Nam với tỷ lệ 30-50% theo nghiên cứu của Hội Hậu môn trực tràng học Việt Nam
“Các tĩnh mạch có van một chiều giúp máu lưu thông về tim. Áp lực hoặc sự suy yếu của các van này tạo điều kiện cho máu trào ngược trở lại và tích tụ trong các tĩnh mạch. Điều này gây ra các phản ứng viêm do ứ trệ tuần hoàn, dẫn tới đau, sưng, nặng chân. Về lâu dài các tĩnh mạch chi dưới giãn ra và hậu quả có thể rất khó lường như loét, thuyên tắc huyết khối. Bệnh trĩ là kết quả khi các tĩnh mạch trực tràng bị sa, chảy máu, đau, sưng”, PGS.TS.DS Nguyễn Tuấn Dũng giải thích thêm.
Bệnh trĩ có thể phát triển do áp lực quá mức ở vùng chậu và trực tràng, có thể trở nên tồi tệ hơn, nhất là khi bị táo bón. Tiêu chảy và táo bón tạo áp lực quá mức lên các tĩnh mạch. Tăng cân và mang thai cũng là yếu tố tăng nguy cơ và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh trĩ.
PGS.TS.DS Nguyễn Tuấn Dũng chia sẻ thêm, suy giãn tĩnh mạch có xu hướng trẻ hóa do công việc, lối sống và thói quen cộng đồng ngày càng ít vận động, tĩnh tại. Ngồi hoặc đứng ở một tư thế trong thời gian dài dẫn đến máu bị ứ trệ ở chi dưới. Điều này có thể dẫn đến các dấu hiệu đầu tiên của bệnh suy giãn tĩnh mạch là đau, sưng, nặng chân hoặc chuột rút về cuối ngày.
2. Phân loại bệnh trĩ
Bệnh trĩ không nguy hiểm nhưng lại gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân. Do vậy, hiểu đúng về bệnh trĩ giúp phòng ngừa, điều trị dứt điểm và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Bệnh trĩ có thể phát triển bên trong trực tràng gọi là trĩ nội hoặc dưới da xung quanh hậu môn gọi là trĩ ngoại.
- Trĩ nội: Là tình trạng búi trĩ xuất hiện từ phía trên đường lược (là đường hình răng cưa, ranh giới giữa lớp trong cùng (biểu mô) của hậu môn và trực tràng. Vì trĩ nội nằm bên trong trực tràng nên ở giai đoạn sớm không thể nhìn thấy và chỉ phát hiện khi đi tiêu ra máu. Khi trĩ to lên, bệnh nhân đi tiêu sẽ lòi trĩ.
- Trĩ ngoại: Là tình trạng búi trĩ xuất hiện ở phía dưới đường lược, và nằm bên dưới lớp da của hậu môn. Trĩ ngoại có thể nhìn thấy, sờ thấy và thường gây ra tình trạng đau rát, khó chịu nhiều hơn trĩ nội do vùng tổn thương tiếp xúc, cọ xát trực tiếp với các tác nhân bên ngoài như trang phục, ghế ngồi.
Dựa vào sự tiến triển của trĩ nội, bác sĩ có thể phân các cấp độ của bệnh trĩ nội như sau:
- Trĩ độ 1: Giai đoạn này, trĩ mới ở mức độ nhẹ nhất, búi trĩ vẫn nằm hoàn toàn trong ống hậu môn và chưa bị lòi ra ngoài.
- Trĩ độ 2: Búi trĩ lòi ra ngoài khi đi đại tiện, có thể tự chui vào sau đi tiêu.
- Trĩ độ 3: Giai đoạn này, búi trĩ lòi ra ngoài khi đi tiêu và cần phải dùng tay đẩy vào sau khi đi tiêu.
- Trĩ độ 4: Đây là giai đoạn trĩ nặng, búi trĩ thường xuyên sa ra ngoài ngay cả khi người bệnh không đi tiêu, như khi ngồi xổm, làm việc nặng hoặc đi lại nhiều. Lúc này trĩ gây nhiều khó khăn cho việc đại tiện và sinh hoạt.
3. Yếu tố nguy cơ gây nên bệnh trĩ
Bệnh trĩ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là ở những người từ 30-60 tuổi, trong số đó, tỷ lệ phụ nữ mắc trĩ nhiều hơn nam giới (chiếm 61%).
Nguyên nhân bị bệnh trĩ có thể xuất phát từ các yếu tố, nguy cơ như:
- Ngồi nhiều, ít vận động, đặc biệt là dân văn phòng
- Uống ít nước
- Uống rượu bia
- Hay ăn đồ cay nóng
- Chế độ ăn thiếu rau xanh và chất xơ
- Mắc bệnh béo phì
- Phụ nữ mang thai
- Táo bón hoặc tiêu chảy mãn tính
- Hay quan hệ tình dục qua đường hậu môn
- Thói quen ngồi bồn cầu lâu hoặc rặn nhiều khi đi đại tiện
- U vùng tiểu khung như u đại trực tràng, u xơ tử cung…
4. Cách trị bệnh trĩ tại nhà
- Ăn thực phẩm giàu chất xơ. Ăn nhiều trái cây, rau củ và ngũ cốc nguyên hạt.
- Dùng thuốc bôi hoặc thuốc cải thiện tuần hoàn máu.
- Thường xuyên ngâm hậu môn trong nước ấm từ 10 – 15 phút mỗi lần, 2-3 lần một ngày.
- Tránh vận động nặng, ngồi hoặc đứng lâu.
- Có thể uống thuốc giảm đau acetaminophen, aspirin hoặc ibuprofen khi có sự đồng ý của bác sĩ.
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là gì?
1. Định nghĩa suy giãn tĩnh mạch chi dưới
Suy tĩnh mạch chi dưới là sự suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch chi dưới dẫn đến hiện tượng máu bị ứ đọng lại ở vùng chân, gây biến đổi về huyết động và làm biến dạng các tổ chức mô xung quanh. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm nhưng gây trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hàng ngày.
Tĩnh mạch chi dưới gồm:
- Tĩnh mạch nông: tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch hiển bé.
- Tĩnh mạch sâu: tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch chày trước, tĩnh mạch chày sau.
- Tĩnh mạch xuyên: nối các tĩnh mạch nông và tĩnh mạch sâu với nhau.
- Van tĩnh mạch một chiều ở cả 3 loại tĩnh mạch trên.

2. Các yếu tố nguy cơ
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là bệnh rất thường gặp, nữ giới thường có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới. Bệnh được xác định liên quan đến một số yếu tố gây tốn thương chức năng của các van một chiều thuộc hệ tĩnh mạch ngoại biên. Các van này bị tổn thương là do:
Tư thế sinh hoạt, làm việc: phải đứng hay ngồi một chỗ quá lâu, ít vận động, phải mang vác nặng… tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu dần gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van bị suy yếu sẽ làm giảm khả năng ngăn chặn dòng màu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân.
Người mang thai nhiều lần, sinh đẻ nhiều, béo phì, táo bón kinh niên, lười thể dục, hút thuốc lá, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin… cũng làm cho bệnh trở nên nặng hơn.
Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng màu trở về tim.
Viêm tĩnh mạch hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch nông và sâu.
Khiếm khuyết van do bẩm sinh.
Thoái hoá van ở người cao tuổi.
3. Phân độ suy giãn tĩnh mạch
Độ 0: chưa có biểu hiện bệnh lý tĩnh mạch thấy được hay sờ được.
Độ 1: có mao mạch giãn hoặc lưới tĩnh mạch giãn với đường kính < 3mm.
Độ 2: giãn tĩnh mạch với đường kính > 3mm.
Độ 3: phù chi dưới nhưng chưa biến đổi trên da.
Độ 4: loạn dưỡng da gây biến đổi sắc tố da, chàm tĩnh mạch, xơ mỡ da, …
Độ 5: biến đổi sắc tố da kèm vết loét đã lành.
Độ 6: biến đổi sắc tố da kèm vết loét đang tiến triển, không lành.

4. Triệu chứng suy giãn tĩnh mạch
Giai đoạn đầu:
Mỏi chân và xuất hiện phù nhẹ khi phải đứng lâu, ngồi nhiều.
Chuột rút vào buổi tối.
Cảm giác bị kim châm, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm.
Xuất hiện nhiều mạch máu nhỏ li ti ở chân, nhất là ở cổ chân và bàn chân.
Giai đoạn tiến triển:
Phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân.
Thay đổi màu sắc da vùng cẳng chân.
Có thể thấy các búi tĩnh mạch giãn nổi rõ trên da.
Giai đoạn biến chứng:
Viêm tĩnh mạch nông huyết khối.
Chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch.
Nhiễm khuẩn vết loét trong suy tĩnh mạch mạn tính.
5. Siêu âm trong chẩn đoán
Siêu âm mạch chi dưới là một phương pháp quan trọng và rất cần thiết để chẩn đoán xác định bệnh. Siêu âm giúp quan sát thành mạch, hoạt động của van tĩnh mạch và tìm các cục máu đông. Phương pháp này đơn giản, rẻ tiền, hiệu quả cao nên thường là chỉ định đầu tay của các bác sĩ khi trong chẩn đoán bệnh lý mạch máu chi dưới.
6. Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới
Thay đổi lối sống: nâng cao chân khi ngủ hoặc khi ngồi, mang tất áp lực, tránh đứng trong thời gian dài, giảm ân nếu thừa cân, tập thể dục để cải thiện sức mạnh của đôi chân.
Nếu thay đổi lối sống không làm giảm triệu chứng bệnh, cần lựa chọn các biện pháp điều trị khác như: tiêm xơ tĩnh mạch, điều trị suy tĩnh mạch bằng sóng cao tần hay tia laser, điều trị ngoại khoa (phẫu thuật Stripping, phẫu thuật Muller, …).
Bệnh suy tĩnh mạch chi dưới tiến triển chậm. Ở giai đoạn sớm, người bệnh rất khó nhận biết các triệu chứng. Vì vậy những người có yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh cần chú ý đến các triệu chứng của bệnh và nên đến các cơ sở y tế uy tín để được thăm khám, điều trị bệnh sớm nhằm tránh những biến chứng của bệnh có thể xảy ra.
Nguồn: st




